Soạn bài Tục ngữ về con người và xã hội VN | Ngữ văn 7

*Hướng dẫn soạn bài tục ngữ về con người và xã hội trong sách ngữ văn 7

Câu 1: Câu 1 (trang 12 sgk Ngữ Văn 7 Tập 2)

Em đọc kĩ văn bản và chú thích để hiểu các câu tục ngữ và một số từ trong văn bản.

Ngoài các cách gieo vần tương tự như ở bài Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất, các câu tục ngữ về con người và xã hội còn nổi bật ở những khía cạnh khác:

  • Sử dụng các hình ảnh so sánh, hoán dụ, các phép đối,… hiệu quả.
  • Đưa ra những câu tục ngữ có nghĩa đối lập nhưng không loại trừ nhau mà còn bổ sung cho nhau. Ví dụ như hai câu 5, 6:

Không thầy đố mày làm nên

Học thầy không tày học bạn.

Không nên căn cứ vào ý nghĩa của câu sau để phủ nhận vai trò của người thầy cũng như đề cao vai trò của bạn quá mức. Thực ra, đây chỉ là những cách nói hình ảnh. Nói đến “thầy” là nói đến nhà trường, đến những tri thức sách vở, còn nói đến “bạn” là nói đến thực tiễn đời sống muôn màu vẻ. Có câu “Mọi lí thuyết chỉ là màu xám, còn cây đời mãi mãi xanh tươi”, tri thức đời sống rất quan trọng nhưng không ai có thể phủ nhận vai trò của nhà trường, của tri thức sách vở trong việc mở mang vốn tri thức, bồi dưỡng phẩm chất, nhân cách của con người. Tri thức sách vở và tri thức đời sống đều cần thiết, không loại trừ nhau, trái lại, phải bổ sung cho nhau để con người được hoàn thiện.

Câu 2: (trang 12 sgk Ngữ Văn 7 Tập 2)

Nghĩa của câu tục ngữ Giá trị kinh nghiệm của câu tục ngữ Ứng dụng
Một mặt người bằng mười mặt của Con người quý hơn tiền bạc Đề cao giá trị của con người Cha mẹ yêu con, muốn con được sống và học tập tốt. Xã hội quan tâm đến quyền con người.
Cái răng, cái tóc là góc con người Hàm răng, cái tóc là góc con người. Răng với tóc là các phần thể hiện hình thức, tính nết con người. Phải biết chăm chút từng yếu tố thể hiện hình thức, tính nết tốt đẹp của con người. Rèn luyện từ cái nhỏ nhất, chú ý lời nói, cử chỉ…
Đói cho sạch, rách cho thơm Dù khó khăn về vật chất vẫn phải trong sạch, không được làm điều xấu. Dù nghèo khó vẫn phải biết giữ nhân cách tốt đẹp. Giữ mình, tránh xa những cám dỗ, tệ nạn trong xã hội: nghiện hút, bỏ bê học hành…
Học ăn, học nói, học gói, học mở Cần phải học cách ăn, nói… đúng chuẩn mực. Phải học cách cư xử có văn hóa. Con người cần thành thạo mọi việc, khéo léo trong giao tiếp. Giao tiếp, cư xử đúng mực với thầy cô, cha mẹ, bạn bè.
Không thầy đố mày làm nên Muốn làm được việc gì cũng cần phải có người hướng dẫn. Muốn nên người thành đạt thì cần có người thầy, cô hướng dẫn. Vì vậy, phải ghi nhớ công lao của người thầy. Tìm thầy học để có có hội hiểu biết, thành công. Ngoài ra, phải biết tôn trọng và biết ơn thầy cô bằng những việc làm cụ thể.
Học thầy không tày học bạn Học thầy không bằng học bạn Phải tích cực chủ động trong học tập. Muốn học tốt phải mở rộng sự học ra xung quanh nhất là với bạn bè. Học hỏi bạn bè ở lớp và tự học để nâng cao.
Thương người như thể thương thân Khuyên con người biết yêu thương người khác như chính bản thân mình. Đề cao cách ứng xử nhân văn. Hãy sống bằng lòng vị tha, nhân ái. Biết giúp đỡ mọi người nhất là những người gặp khó khăn, hoạn nạn.
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây Được hưởng thành quả phải biết ơn, nhớ ơn người tạo ra thành quả đó. Mọi thứ ta có, hưởng thụ là do sức người khác làm ra. Chính vì thế, cần trân trọng, biết ơn người đi trước. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”.
Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Việc lớn, việc khó không thể một người mà xong được, cần nhiều người hợp sức. Đoàn kết sẽ tạo nên sức mạnh. Nhắc nhở về tinh thần tập thể trong lối sống và làm việc tránh lối sống cá nhân, ích kỉ.

Câu 3: Soạn bài: Tục ngữ về con người và xã hội: So sánh 2 câu tục ngữ

  • Không thầy đố mày làm nên.
  • Học thầy không tày học bạn.

Mới đọc tưởng chừng hai câu tục ngữ đối lập nhau nhưng thực chất lại bổ sung chặt chẽ cho nhau. Cả hai câu, câu nào cũng đề cao việc học, chỉ có học tập, biết tìm thầy mà học thì con người mới có thể thành tài, có khả năng đóng góp cho xã hội và sống mới có ý nghĩa.

Câu 4: Các giá trị nổi bật của các đặc điểm trong tục ngữ:

* Diễn đạt bằng so sánh:

  • Một mặt người bằng mười mặt của.
  • Học thầy không tày học bạn.
  • Thương người như thể thương thân.

Phép so sánh được sử dụng rất đa dạng, linh hoạt. Trong câu thứ nhất, so sánh “bằng”, hai âm “ươi” (người – mười) vần và đối nhau qua từ so sánh. Trong câu thứ hai cũng diễn đạt quan hệ đó, dân gian so sánh “tày”, vần với âm “ay” trong vế đưa ra so sánh (thầy). Câu thứ ba dùng phép so sánh “như”. Các cách sử dụng đó có tác dụng dễ thuộc, dễ nhớ, chuyển tải ý tưởng một cách dễ dàng.

* Diễn đạt bằng hình ảnh ẩn dụ:

  • Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
  • Một cây làm chẳng nên non
  • Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

Hình ảnh ẩn dụ trong câu thứ nhất: từ quả – cây nghĩa đen chuyển sang thành quả và người có công giúp đỡ, sinh thành… Tương tự như vậy, cây và non chuyển sang nghĩa một cá nhân và việc lớn, việc khó… là những phép ẩn dụ có tác dụng mở rộng nghĩa, diễn đạt uyển chuyển các ý tưởng cần nêu.

* Dùng từ và câu có nhiều nghĩa:

  • Cái răng, cái tóc (không những chỉ răng tóc cụ thể, mà còn chỉ các yếu tố hình thức nói chung – là những yếu tố nói lên hình thức, nhân cách con người).
  • Đói, rách (không những chỉ đói và rách mà còn chỉ khó khăn, thiếu thốn nói chung); sạch, thơm chỉ việc giữ gìn tư cách, nhân phẩm tốt đẹp.
  • Ăn, nói, gói, mở… ngoài nghĩa đen còn chỉ việc học cách giao tiếp, ứng xử nói chung.
  • Quả, kẻ trồng cây, cây, non… cũng là những từ có nhiều nghĩa, như đã nói trong câu 3.

Các cách dùng từ này tạo ra các lớp nghĩa phong phú, thích ứng với nhiều tình huống diễn đạt và hoàn cảnh giao tiếp.

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *